Trong điều kiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và rất nhiều biến động về kinh tế, chính trị, xã hội... logistics đang thể hiện vai trò quan trọng trong việc liên kết chặt chẽ các bên liên quan, duy trì và chống đứt gãy chuỗi cung ứng, đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững toàn cầu.
Bằng cách đa dạng hóa những mắc xích trong chuỗi cung ứng sang các nước trong khu vực, trong khi vẫn duy trì hoạt động sản xuất giá trị cao hơn ở Trung Quốc với việc áp dụng kỹ thuật số chuyển đổi và tự động hóa cho thấy các nước ASEAN; trong đó, có Việt Nam đang có lợi thế để hưởng lợi ngay lập tức từ việc thiết kế lại chuỗi cung ứng này.
Điển hình, hai mảng hoạt động logistics lớn hiện nay là logistics cho các dịch vụ xuất – nhập khẩu và logistics phục vụ ngành thương mại điện tử. Nhận diện được cơ hội, ngày càng nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng các phần mềm để khắc phục các hạn chế nhưng đa phần vẫn chưa đầu tư đúng mức cho công nghệ, phần mềm cơ bản vẫn còn được áp dụng phổ biến.
Ngoài ra, ứng dụng công nghệ thông tin cũng còn nhiều tồn tại bất cập, khi phần lớn website doanh nghiệp logistics thiếu những tiện ích mà khách hàng cần dùng như công cụ theo dõi đơn hàng, theo dõi chứng từ, xem lịch tàu, e-Booking... Do đó, cộng đồng doanh nghiệp logistics cần cắt giảm chi phí qua ứng dụng công nghệ số hoá.
Báo cáo thống kê thực trạng số hóa logistics trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp logistics trên địa bàn thành phố có ứng dụng ERP đạt 44,8%. Đây là con số khá cao so với mức trung bình của cả nước là 30%, tuy nhiên vẫn chưa đạt được tối ưu hóa hiệu quả và vẫn còn số lượng lớn doanh nghiệp chưa tiếp cận được. Tương tự, tỷ lệ ứng dụng hệ thống quản lý kho hàng (WMS) đạt 41,4%. Trong khi, hầu hết doanh nghiệp đa quốc gia đều được trang bị hệ thống này, khi vào hoạt động trên thị trường Việt Nam, họ dùng chung hệ thống của công ty mẹ.
Ngoài ra, với các công ty trong nước, chỉ có những doanh nghiệp lớn chuyên làm kho phân phối như Tổng Công ty Tân Cảng, Gemadept, VINAFCO, U&I, TBS, Transimex, Sotrans... đang phát triển các ứng dụng quản lý kho hàng để đạt mức đồng bộ dữ liệu giữa các bộ phận giao hàng, quản lý hàng tồn, kế toán tài chính... Còn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa thì chi phí đầu tư là một rào cản lớn.
Báo cáo này cũng chỉ ra rằng, tỷ lệ doanh nghiệp logistics có sử dụng công nghệ mã vạch chỉ chiếm 10,2% và sử dụng công nghệ RFID (công cụ cơ bản để quản lý dòng lưu chuyển hàng hóa) chiếm 2,5%. Đồng thời, việc sử dụng điện toán đám mây, công nghệ blockchain, trí tuệ nhân tạo... vẫn còn rất hạn chế trong doanh nghiệp logistics trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh.
Trên thực tế, một trong những nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp ứng dụng công nghệ chưa cao, vừa phải đầu tư hệ thống phần cứng, phần mềm, vừa phải đầu tư vào con người, tốn nhiều thời gian và chi phí. Nếu đầu tư theo hướng tự động hoá của các mô hình và phần mềm nước ngoài thì tốn nhiều chi phí đầu tư ban đầu; còn nếu tự làm ra mô hình nội bộ thì mất nhiều thời gian, khó khăn, chi phí nguồn nhân lực IT... nên doanh nghiệp chưa mạnh dạn hoặc không có khả năng đầu tư.
Hiện tại, mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong các công đoạn logistics còn thấp và chưa đồng đều, nên ngành đối mặt với vấn đề lớn là khả năng kết nối, đồng bộ chuỗi dữ liệu logistics để tạo thành cơ sở dữ liệu dùng chung cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước. Cùng với đó, một số nguyên tắc chưa có trong luật và quản lý Nhà nước cũng tạo ra rào cản cho số hoá trong logistics như chưa có luật về logistics, luật về e-logistics, thủ tục hành chiń h cũng phức tạp... nên ứng dụng thanh toán điện tử, hóa đơn điện tử cho cả quá trình logistics không thể ứng dụng đồng bộ.
Bên cạnh những hạn chế, ông Lê Huỳnh Minh Tú, Phó Giám đốc Sở Công Thương Tp. Hồ Chí Minh cũng chỉ ra, hai điểm sáng trong chuyển đổi số trong ngành logistics ở Tp. Hồ Chí Minh là 99% phương tiện vận tải đã được gắn hộp đen giám sát hành trình GPS và dữ liệu hành trình đã được đồng bộ về trung tâm điều hành. Còn tỷ lệ doanh nghiệp sử dụng chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) đạt 72,4%, chủ yếu trong các khâu khai báo hải quan, xử lý vận đơn của nhà vận chuyển.

